1. Viện Đá Quý-Vàng và Trang Sức Việt

    image
  2. RuBy

    image
  3. SaPhia

    image
  4. Thạch Anh

    image
  5. Cẩm Thạch MYANMA

    image
  6. Đá Màu

    image
  7. Ngọc Trai

    image

THÊM MỘT NÉT VÔ CÙNG ĐỘC ĐÁO CHO KỲ QUAN “CÔNG VIÊN ĐỊA CHẤT CAO NGUYÊN ĐÁ ĐỒNG VĂN” HÀ GIANG : DI TÍCH MẶT SAN BẰNG 16 TRIỆU NĂM TUỔI.

09:15:00 27/11/2014

 

            Khi làm hồ sơ đăng ký di sản “Công viên địa chất thế giới” Hà Giang, chúng tôi chưa thấy tài liệu về một đặc điểm vô cùng độc đáo của di sản đó : DI TÍCH CỦA NHỮNG BỀ MẶT BÓC MÒN LIÊN QUAN ĐẾN SỰ HẠ THẤP MỤC NƯỚC BIỂN ĐÔNG.

Dựa trên nguyên lý bóc mòn của mạng thủy văn là quá trình bóc mòn phải tuân thủ quy tắc cân bằng với bề mặt bóc mòn cơ sở ( marine base level ), đó là mực nước biển. Với một mực nước biển nhất đinh mạng lưới thủy văn sẽ tiến đến  cân bằng với một bề mặt bóc mòn có độ cao xác định. Khi mực nước biển nâng cao hay hạ thấp với một quy mô lớn trên toàn khu vực sẽ tạo nên những bề mặt san bằng có độ cao khác nhau. Ngày nay những mặt san bằng đó còn lưu giữ lại với bề mặt răng cưa nhưng có cùng một độ cao (hình 1).

 

 

 

 

 

Hình 1- Sơ đồ về mối quan hệ giữa mặt san bằng và mặt cơ sở của biển.

 

 

 

 

 

 

Hình 2.- Ảnh chụp các bề mặt san bằng với những độ cao khác nhau ở cao nguyên đá Hà Giang.

Trên cao nguyên đá Hà Giang còn lưu giữ lại nhiều bề mặt núi răng cưa trên cùng một độ cao: 1400m, 1200m, 800m, 600m và một vài bề mặt thấp hơn. ( Hình 2).

Quá trình bóc mòn tiến đến hình thành những bề mặt san bằng trải qua hàng triệu năm. Thoạt đầu tương ứng với một mực nước biển ( độ cao 0 m lúc bấy giờ) , ở những thượng lưu của các dòng chảy quá trình bóc mòn xảy ra mạnh mẽ tạo nên địa hình chia cắt ( thung lũng sâu, núi cao, đỉnh nhọn ) . Dần dần địa hình bị san bằng và thấp dần với độ cao ngày một gần độ cao mực nước biển , năng lượng dòng chảy giảm tối đa , dòng chảy uốn lượn và đổi dòng liên tục đồng thời rải trầm tích mở rộng theo chiều ngang tạo nên các  tam giác châu tiếp cận biển. Trong khi đó ở phía trên tam giác châu hình thành miền trung du ngày càng mở rộng thay dần miền núi và cuối cùng trung du và miền núi không còn phân biệt nữa : một bề mặt san bằng được hình thành. Sau đó nếu mực nước biển vì một lý do nào đó có thể  hạ thấp tạo nên một độ O m mới. Quá trình cân bằng trước đây được thiết lập bị phá vỡ. Quá trình bóc mòn lại tiếp tục diễn biến như trước và dẫn đến hình thành bề mặt san bằng thứ hai thấp hơn. Cứ như vậy, thiên nhiên biến đổi không ngừng …

Có thể đối sánh các lớp trầm tích trong các biển hay tam giác châu nằm kế cận, các lớp trầm tích đó  như những trang sử ghi nhận các diễn biến vừa mới trình bày trên .

Theo nghiên cứu của Trần Nghi ( 2011) bể trầm tích Biển Đông có những trầm tích biển với các chu kỳ như sau:

Chu kỳ IV ( từ 24-16 triệu năm ) (Miocen sớm) ứng  với hệ tầng trầm tích Phong Châu.

Chu kỳ V ( 16-11 triệu năm) Miocen giữa ứng với hệ tầng Phù Cừ.

Chu kỳ VI ( 11- 5 triệu năm ) Miocen trên, ứng với hệ tầng Tiên Hưng

Chu kỳ VII ( Neogen N2-Q ) ứng với các hệ tầng Vĩnh Bảo, Lệ Chi, Hà nội, Vĩnh Phúc,Hải Hưng, Thái Bình.

Chu kỳ Pliocen- Đệ Tứ liên quan với 7 chu kỳ băng hà.

Liên quan với nghiên cứu trên có thể liên hệ với bề mặt san bằng 1400m với chu kỳ IV ( 24-16 triệu năm), 1200m( chu kỳ V- 16-11 triệu năm), 800m ( chu kỳ VI- 11-5 triệu năm) , 600 m (chu kỳ VII – N2-Q) v.v..(xem hình  3).

Dựa trên thực tế đó có thể thành lập sơ đồ tiến triển của mực nước biển Đông trong thời gian từ Miocen (26 triệu năm ) cho đến ngaỳ nay. Bề mặt san bằng 1400 m là bề mặt cổ nhất tương ứng với hệ tầng trầm tích Phong Châu có tuổi 26-16 triệu năm. Đó cũng là thời kỳ tạo ra các trầm tích Miocen trải rộng trên toàn Biển Đông làm lá chắn cho các trầm tích chứa dầu khí có tuổi Eocen và Oligocen. (Hình 3). Các bề mặt thấp hơn 1200m, 800m v.v..có thể liên hệ với những tầng trầm tích trẻ hơn.

 

 

 

Hình 3

Trầm tích Miocen nằm ngang trên trầm tích Oligocen ở Biển Đông (Rangin, 1995)

 

Kết luận

            Việc liên kết những bề mặt san bằng dưới dạng dãy núi răng cưa có độ cao từ 1400m cho đến 600 m với các tầng trầm tích trong tam giác châu Sông Hồng và Biển Đông là một phương pháp khoa học đáng tin cậy. Từ đó phát hiện dãy núi răng cưa có độ cao 1400m có tuổi 16 triệu năm , tương tự, dãy núi 1200 m tuổi - 11 triệu năm, dãy núi 800m- 5 triệu năm và các mặt tiếp theo tương ứng giai  đoạn Neogen- Đệ Tứ. Tổng quan toàn bộ cao nguyên đá Hà Giang được hình thành ít nhất từ 16 triệu năm tính đến ngày hôm nay. Di tích địa chất này đã góp phần quan trọng tôn vinh di sản thiên nhiên thế giới đã được công nhận.