1. Viện Đá Quý-Vàng và Trang Sức Việt

    image
  2. RuBy

    image
  3. SaPhia

    image
  4. Thạch Anh

    image
  5. Cẩm Thạch MYANMA

    image
  6. Đá Màu

    image
  7. Ngọc Trai

    image

THẰN LẰN TRONG HỔ PHÁCH GIẢ

09:40:00 12/11/2013

Thỉnh thoảng, phòng lab của Viện Đá Quý Hoa Kỳ (GIA) mới giám định các mẫu hổ phách hay đá giả chứa côn trùng, nhưng lần này hai mẫu giống hổ phách tự nhiên đặc biệt được đưa đến chỉ cách ngày. Đây cũng là cơ hội hiếm có để các nhà ngọc học nghiên cứu.

Hình 1: Mẫu đá giống hổ phách tự nhiên là đá nhân tạo chứa thằn lằn, làm bằng nhựa tổng hợp polystyrene, thằn lằn được đổ khuôn chung với nhựa. Hình của GIA.

Mẫu thứ nhất (58,14 x 35,75 x 24,41 mm) chứa con thằn lằn đã phân hủy có đuôi bị gãy và mất một chân (hình 1). Khảo sát dưới phóng đại và ánh sáng phân cực, thấy một dải biến dạng hẹp xung quanh thân côn trùng. Cũng thấy bọt khí và một số dòng chảy. Tuy nhiên, những tính chất này chưa xác định được là hổ phách, copal hay plastic (nhựa tổng hợp). Chiết suất đo được 1,55, cao hơn chút xíu so với hổ phách (1,54), vẫn chưa kết luận được. Phát huỳnh quang cực tím cả sóng dài và sóng ngắn  là vàng phớt lục phấn, lại giống với hổ phách. Tỷ trọng là 1,18 nặng hơn hổ phách, mẫu đá chìm trong dung dịch muối bão hòa (tỷ trọng 1,13), phòng lab thiên về plastic nhưng vẫn không dám kết luận là vì có thể tỷ trọng nặng hơn là nhờ xác thằn lằn quá lớn. Phòng lab xin phép chủ mẫu cho thử bằng phương pháp điểm nóng, kết quả cho mùi khét, đến lúc này mới kết luận là plastic. Để biết loại plastic, các nhà ngọc học phải đo mẫu bằng phổ Raman và xác định được mẫu chứa thằn lằn ở bên trái hình 1 là nhựa polystyrene.

Mẫu thứ hai (74,5 x 31,9 x 25,32 mm) ở hình 2, dễ xác định hơn mẫu trước.

 

Hình 2: Mẫu đá này cũng giống hổ phách tự nhiên, làm bằng nhựa copal và plastic,  thằn lằn được đổ khuôn chung với nhựa. Hình của GIA.

Xác thằn lằn chỉ bị phân hủy rất ít. Dưới kính phóng đại thấy có một mặt phân cách hai lớp và chứa nhiều bọt khí, chứng tỏ đây là một dạng đá ghép. Phần đáy có mây, các khe nứt và những tạp chất khác nhau. Phần trên chỉ có một kiểu biến dạng rộng, các dòng chảy và bọt khí xung quanh con thằn lằn. Chiết suất phần dưới là 1,54; phần trên 1,57. Cả hai phát quang màu vàng phớt lục phấn đến vàng, nhưng nửa dưới phát quang mạnh hơn một chút ở cực tím sóng dài.

Nhúng vào dung dịch muối bão hòa, mẫu lật ngược lên để lộ phần đáy lên trên, nhưng mẫu không chìm hẳn, nghĩa là tỷ trọng chung của mẫu thì £ 1,13 và phần đáy có tỷ trọng nhẹ hơn phần trên. Vì phần đáy có một số lổ nhỏ, nên có thể thử bằng các phương pháp hủy mẫu. Dùng cách thử điểm nóng, phần đáy tỏa mùi hương; thử bằng acetone thì vật liệu bị mềm, chứng tỏ phần dưới là copal (dạng hổ phách còn non). Với phần trên, do tỷ trọng cao hơn và thử điểm nóng có mùi khét nên kết luận là plastic. Đo cả hai phần bằng phổ Raman, khẳng định phần đáy là copal, phần trên là plastic nhưng không phải là polystyrene như ở mẫu 1.

Nhờ có 2 mẫu trên, ta thấy việc chế tạo đá có thằn lằn (hoặc các côn trùng) bên trong để làm giả hổ phách bằng các vật liệu khác nhau. Nhưng việc giám định bằng một số phương pháp thông thường chưa thể xác định được, mà phải nhờ đến các phân tích hủy mẫu mới kết luận. Do đó cần phát triển những phương pháp xác định hổ phách và đá giả hổ phách mà không hủy mẫu.

giv.vn sưu tầm